Nam truyền · Tiếng Việt
Kinh Na Tiên Tỳ Kheo — Cao Hữu Đính — 44. Giọt nước mắt lành
Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản
Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, Cao Hữu Đính Việt dịch theo Hán bản: đủ ba phần, 62 chương hỏi đáp. Khác tuyển 11 chủ đề của KTHN21; không tuyên bố là toàn bộ Pāli Milindapañha.
Mục lục 62 phần
- 1. Vô Ngã hay Danh
- 2. Danh số
- 3. Cách nói chuyện của hiền giả và vương giả hay điều kiện đối thoại.
- 4. Di Lan Ðà thỉnh Na Tiên vào hoàng cung
- 5. Cứu cánh đích thực của bậc xuất gia
- 6. Nguyên nhân luân hồi và phương pháp giải thoát
- 7. Pháp lành
- 8. Tương quan giữa thân trước và thân sau.
- 9. Tự biết hết tái sanh
- 10. Trí và Minh.
- 11. Ðắc đạo rồi có còn đau khổ không?
- 12. Vui khổ thiện và bất thiện
- 13. Danh thân tái sanh
- 14. Ðã hỏi rồi không nên hỏi lại
- 15. Danh và thân tương liên
- 16. Thời gian
- 17. Ðầu mối của sanh tử
- 18. Nhân duyên sanh
- 19. Linh hồn
- 20. Liên hệ giữa căn và tâm thần
- 21. Xúc
- 22. Cảm thọ
- 23. Giác
- 24. Sở niệm
- 25. Nội động
- 26. Nỗi lòng
- 27. Muối
- 28. Duyên nghiệp của tri giác
- 29. Nguyên nhân bất bình đẳng giữa loài người
- 30. Phải sớm làm điều lành
- 31. Lửa địa ngục
- 32. Nước dựa trên không khí
- 33. Niết Bàn
- 34. Phật có ra đời
- 35. Phật là tối thắng
- 36. Thân cũ không tái sanh
- 37. Thân mất , việc làm còn
- 38. Không thể biết quả báo về sau.
- 39. Niết Bàn ở đâu?
- 40. Vì sao Sa môn săn sóc cái thân?
- 41. Tại sao Phật không giống cha mẹ?
- 42. Chơi chữ
- 43. Ai truyền giới cho Phật?
- 44. Giọt nước mắt lành
- 45. Mê ngộ khác nhau
- 46. Trí Nhớ
- 47. Mười sáu cách nhớ
- 48. Phật là Ðấng Toàn Giác
- 49. Nhân it, quả nhiều
- 50. Ngừa giặc khi chưa đến
- 51. Thần thông chẳng quản xa gần
- 52. Cùng đến một lượt
- 53. Bảy sự việc tựu thành giác ngộ.
- 54. Làm việc lành nhỏ được phước lớn.
- 55. Kẻ trí làm điều dữ ít bị tai vạ hơn người ngu
- 56. Bay lên trên không
- 57. Xương dài bốn ngàn dặm
- 58. Ngừng hơi thở
- 59. Biển
- 60. Trí tuệ soi thấu tất cả.
- 61. Thần hồn, trí và thức
- 62. Phật làm được việc khó làm
Lời kinh / bài đọc
44. Giọt nước mắt lành
Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, ngưòi ta khi có cha mẹ chết thì ưu sầu khổ, gào khóc thảm thê, nước mắt ràn rụa. Lại có người khi mới nghe được Pháp Phật và nhờ đó mà tỉnh ngộ, cũng lại nước mắt đầm đìa, lệ tuôn lả chả. Cả hai trường hợp đều có lệ rơi. Vậy hai dòng lệ ấy có khác nhau không?
-- Tâu Ðại vương, nước mắt tuông ra khi cha mẹ chết là nước mắt của sầu ưu khổ thống, do niệm ân ái gây nên. Ðó là chất độc của ngu si tiết rỉ ra. Còn nước mắt ứa trào ra khi nghe được pháp Phật là nước mắt của lòng từ tâm, vì nhớ nghĩ đến khổ đau của thế gian mà tuông ra. Ðây là loại nước mắt an lạc, thanh tịnh. Cũng đồng thời là nước mắt nhưng một bên thì nóng bức đố hiêu, một bên lại mát mẻ an lành và tăng thêm phước đức.
-- Hay thay! Hay thay!
Nguồn bản đọc
Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản
BuddhaSasana cho phép phổ biến miễn phí trong tinh thần Pháp thí; giữ nguyên bản dịch và nguồn · Thông tin từ nguồn