Phật Giáo VNS
Tiếng Việt

Nam truyền · Tiếng Việt

Kinh Na Tiên Tỳ Kheo — Cao Hữu Đính — 3. Cách nói chuyện của hiền giả và vương giả hay điều kiện đối thoại.

Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản

Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, Cao Hữu Đính Việt dịch theo Hán bản: đủ ba phần, 62 chương hỏi đáp. Khác tuyển 11 chủ đề của KTHN21; không tuyên bố là toàn bộ Pāli Milindapañha.

Mục lục 62 phần
  1. 1. Vô Ngã hay Danh
  2. 2. Danh số
  3. 3. Cách nói chuyện của hiền giả và vương giả hay điều kiện đối thoại.
  4. 4. Di Lan Ðà thỉnh Na Tiên vào hoàng cung
  5. 5. Cứu cánh đích thực của bậc xuất gia
  6. 6. Nguyên nhân luân hồi và phương pháp giải thoát
  7. 7. Pháp lành
  8. 8. Tương quan giữa thân trước và thân sau.
  9. 9. Tự biết hết tái sanh
  10. 10. Trí và Minh.
  11. 11. Ðắc đạo rồi có còn đau khổ không?
  12. 12. Vui khổ thiện và bất thiện
  13. 13. Danh thân tái sanh
  14. 14. Ðã hỏi rồi không nên hỏi lại
  15. 15. Danh và thân tương liên
  16. 16. Thời gian
  17. 17. Ðầu mối của sanh tử
  18. 18. Nhân duyên sanh
  19. 19. Linh hồn
  20. 20. Liên hệ giữa căn và tâm thần
  21. 21. Xúc
  22. 22. Cảm thọ
  23. 23. Giác
  24. 24. Sở niệm
  25. 25. Nội động
  26. 26. Nỗi lòng
  27. 27. Muối
  28. 28. Duyên nghiệp của tri giác
  29. 29. Nguyên nhân bất bình đẳng giữa loài người
  30. 30. Phải sớm làm điều lành
  31. 31. Lửa địa ngục
  32. 32. Nước dựa trên không khí
  33. 33. Niết Bàn
  34. 34. Phật có ra đời
  35. 35. Phật là tối thắng
  36. 36. Thân cũ không tái sanh
  37. 37. Thân mất , việc làm còn
  38. 38. Không thể biết quả báo về sau.
  39. 39. Niết Bàn ở đâu?
  40. 40. Vì sao Sa môn săn sóc cái thân?
  41. 41. Tại sao Phật không giống cha mẹ?
  42. 42. Chơi chữ
  43. 43. Ai truyền giới cho Phật?
  44. 44. Giọt nước mắt lành
  45. 45. Mê ngộ khác nhau
  46. 46. Trí Nhớ
  47. 47. Mười sáu cách nhớ
  48. 48. Phật là Ðấng Toàn Giác
  49. 49. Nhân it, quả nhiều
  50. 50. Ngừa giặc khi chưa đến
  51. 51. Thần thông chẳng quản xa gần
  52. 52. Cùng đến một lượt
  53. 53. Bảy sự việc tựu thành giác ngộ.
  54. 54. Làm việc lành nhỏ được phước lớn.
  55. 55. Kẻ trí làm điều dữ ít bị tai vạ hơn người ngu
  56. 56. Bay lên trên không
  57. 57. Xương dài bốn ngàn dặm
  58. 58. Ngừng hơi thở
  59. 59. Biển
  60. 60. Trí tuệ soi thấu tất cả.
  61. 61. Thần hồn, trí và thức
  62. 62. Phật làm được việc khó làm

3. Cách nói chuyện của hiền giả và vương giả hay điều kiện đối thoại.

Sau hai câu hỏi khai đề Danh và Số, đến đây Di Lan Ðà đi thẳng vào đối tượng chính của cuộc thảo luận. Vua hỏi:

-- Bạch Ðại đức, trẫm muốn hầu chuyện với Ðại đức về những điểm khó trong kinh điển và về đạo lý nói chung, chẳng hay tôn ý có hoan hỷ doãn nặc cho chăng?

-- Tâu Ðại vương, nếu Ðại vương đứng trên tư thế của một hiền giả mà nói chuyện (Panditavàda) thì bần tăng xin vui lòng đối đáp. Còn nếu Ðại vương đứng trên tư thế của một vương giả mà nói chuyện (Ràjavàda) thì bần tăng sẽ không có gì để đối đáp lại hết. (Ý nói: không thể có đối thoại trong điều kiện như thế)

-- Ðứng trên tư thế của một hiền giả mà nói chuyện là thế nào?

-- Tâu Ðại vương, hiền giả trong khi nói chuyện thì vừa tự dò xét lấy mình lại vừa soi sáng cho kẻ đối thoại một cách nhiệt thành. Trong câu chuyện dù đối phương viện dẫn những lý lẽ hoặc đúng hoặc không đúng, hoặc cao hoặc thấp, hiền giả vẫn không bao giờ móng tâm buồn giận bứt rứt, không hề lấy việc thắng bại làm điều và tự biết rằng trong đó ai cao trỗi hơn, ai có trí tuệ nhiều hơn. Nếu gặp phải một đối tượng quắc thước già giặn và có tài hùng biện, hiền giả cũng không vì thế mà tìm đường cản ngăn hay áp đảo bằng cách đuổi kẻ kia ra khỏi chỗ ngồi hoặc dùng xảo thuật luận lý mở trói, trói mở để thủ thắng cho kỳ được. Tâu Ðại vương, đó là cách nói chuyện của hiền giả.

-- Còn đứng trên tư thế của một vương giả mà nói chuyện là thế nào?

-- Tâu Ðại vương, vương giả trong khi nói chuyện thì thường thường hay dùng quyền thế mà áp đảo kẻ đối thoại, buộc kẻ kia phải chấp nhận quan điểm một chiều của mình. Nếu kẻ kia bất tuân, dám phát biểu ý kiến đối nghịch, thì các ngài chẳng ngại ngùng gì mà chẳng giáng chỉ bắt tội và hình phạt để nêu cao uy quyền riêng của mình, bất chấp lẽ phải và công bằng tối thiểu đối với người. Quyền uy mà các ngài hằng ngày thường sử dụng, tiêm nhiễm lâu năm thành thói quen, khiến các ngài chỉ muốn lấn lướt kẻ khác và không chịu để ai lấn lướt mình trong bất cứ trường hợp nào. Các ngài luôn luôn bị ám ảnh bởi lòng tự cao, tự đại gắn liền với quyền uy, nên chẳng nhận ra sự hơn kém trong lý lẽ viện dẫn của mỗi bên để làm sáng tỏ nội dung câu chuyện đương thảo luận. Chính cái thái độ trịch thượng, một chiều, điên rồ và nguy hiểm ấy đã là nguyên nhân bít lối đối thoại giữa đôi bên, chặt cầu thông cảm giữa đôi bờ. Tâu Ðại vương, đó là cách nói chuyện của vương giả.

-- Bạch Ðại đức, xin Ðại đức chớ ngại. Trẫm sẽ cố gắng học đòi hiền giả và đứng trên tư thế nầy mà hầu chuyện với Ðại đức. Và cũng xin Ðại đức đừng có ý nghĩ rằng Ðại đức đương đối diện với một vương giả mà tiếp chuyện. Xin ngài cứ nói một cách tự nhiên như hằng ngày ngài vẫn thuyết giảng cho tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni, ưu bà tắc hay ưu bà di nghe. Chúng ta có bổn phận phải soi sáng cho nhau. Ngài nên vững tâm, chớ e ngại gì hết. Không quấy lỗi gì đâu.

-- Tâu Ðại vương, những lời Ðại vương vừa phán rất hay và rất đúng. Ðược như thế, bần tăng mới có thể giải đáp thoải mái những câu hỏi đạo của Ðại vương được.

-- Bạch Ðại đức, vậy trẫm xin hỏi một câu.

-- Ðại vương hỏi đi.

-- Trẫm đã hỏi rồi.

-- Bần tăng đã đáp rồi.

-- Ðại đức đáp thế nào?

-- Ðại vương hỏi thế nào?

-- Trẫm không hỏi gì hết.

-- Bần tăng không đáp gì hết.

Vua Di Lan Ðà đặt câu hỏi như thế nầy là cốt để thử trí tuệ và tài hùng biện của Ðại đức Na Tiên đó thôi. Kỳ thật, câu hỏi nầy đã được nhà vua hỏi rồi trong đoạn trước.

Nguồn bản đọc

Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản

Đối chiếu tại nguồn

BuddhaSasana cho phép phổ biến miễn phí trong tinh thần Pháp thí; giữ nguyên bản dịch và nguồn · Thông tin từ nguồn