Phật Giáo VNS
Tiếng Việt

Nam truyền · Tiếng Việt

Kinh Na Tiên Tỳ Kheo — Cao Hữu Đính — 12. Vui khổ thiện và bất thiện

Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản

Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, Cao Hữu Đính Việt dịch theo Hán bản: đủ ba phần, 62 chương hỏi đáp. Khác tuyển 11 chủ đề của KTHN21; không tuyên bố là toàn bộ Pāli Milindapañha.

Mục lục 62 phần
  1. 1. Vô Ngã hay Danh
  2. 2. Danh số
  3. 3. Cách nói chuyện của hiền giả và vương giả hay điều kiện đối thoại.
  4. 4. Di Lan Ðà thỉnh Na Tiên vào hoàng cung
  5. 5. Cứu cánh đích thực của bậc xuất gia
  6. 6. Nguyên nhân luân hồi và phương pháp giải thoát
  7. 7. Pháp lành
  8. 8. Tương quan giữa thân trước và thân sau.
  9. 9. Tự biết hết tái sanh
  10. 10. Trí và Minh.
  11. 11. Ðắc đạo rồi có còn đau khổ không?
  12. 12. Vui khổ thiện và bất thiện
  13. 13. Danh thân tái sanh
  14. 14. Ðã hỏi rồi không nên hỏi lại
  15. 15. Danh và thân tương liên
  16. 16. Thời gian
  17. 17. Ðầu mối của sanh tử
  18. 18. Nhân duyên sanh
  19. 19. Linh hồn
  20. 20. Liên hệ giữa căn và tâm thần
  21. 21. Xúc
  22. 22. Cảm thọ
  23. 23. Giác
  24. 24. Sở niệm
  25. 25. Nội động
  26. 26. Nỗi lòng
  27. 27. Muối
  28. 28. Duyên nghiệp của tri giác
  29. 29. Nguyên nhân bất bình đẳng giữa loài người
  30. 30. Phải sớm làm điều lành
  31. 31. Lửa địa ngục
  32. 32. Nước dựa trên không khí
  33. 33. Niết Bàn
  34. 34. Phật có ra đời
  35. 35. Phật là tối thắng
  36. 36. Thân cũ không tái sanh
  37. 37. Thân mất , việc làm còn
  38. 38. Không thể biết quả báo về sau.
  39. 39. Niết Bàn ở đâu?
  40. 40. Vì sao Sa môn săn sóc cái thân?
  41. 41. Tại sao Phật không giống cha mẹ?
  42. 42. Chơi chữ
  43. 43. Ai truyền giới cho Phật?
  44. 44. Giọt nước mắt lành
  45. 45. Mê ngộ khác nhau
  46. 46. Trí Nhớ
  47. 47. Mười sáu cách nhớ
  48. 48. Phật là Ðấng Toàn Giác
  49. 49. Nhân it, quả nhiều
  50. 50. Ngừa giặc khi chưa đến
  51. 51. Thần thông chẳng quản xa gần
  52. 52. Cùng đến một lượt
  53. 53. Bảy sự việc tựu thành giác ngộ.
  54. 54. Làm việc lành nhỏ được phước lớn.
  55. 55. Kẻ trí làm điều dữ ít bị tai vạ hơn người ngu
  56. 56. Bay lên trên không
  57. 57. Xương dài bốn ngàn dặm
  58. 58. Ngừng hơi thở
  59. 59. Biển
  60. 60. Trí tuệ soi thấu tất cả.
  61. 61. Thần hồn, trí và thức
  62. 62. Phật làm được việc khó làm

12. Vui khổ thiện và bất thiện

Vua hỏi:

-- Bạch Ðại đức, khi người ta cảm thấy vui thì cái ấy thiện hay bất thiện? Cũng như người ta cảm thấy khổ thì cái khổ ấy là bất thiện chăng?

-- Tâu Ðại vương, lại cũng tùy trường hợp. Có khi là thiện, có khi là bất thiện, không chừng.

-- Sao vậy? Ðã là thiện thì hẳn là không có cái khổ. Và ngược lại, trong khổ ắt không có cái thiện. Thiện và khổ, hai bên đâu có xứng hợp nhau.

Na Tiên nạn lại rằng:

-- Ví như có người bị đặt vào bàn tay mặt một hoàn sắt nung đỏ và vào bàn tay trái một cục băng đông cứng. Hoàn sắt nóng và cục băng lạnh ấy có cùng nung đốt kẻ kia không?

-- Có, cả hai cùng nung đốt kẻ kia.

-- Thế thì cả hai cùng nóng chăng? Hoặc cả hai cùng lạnh chăng?

-- Thưa không.

-- Một nóng, một lạnh khác nhau. Sao lại nói cả hai cùng nung đốt? Nếu bảo cái nóng nung đốt thì cả hai viên đâu có cùng nóng? Nếu bảo cái lạnh nung đốt thì cả hai viên đâu có cùng lạnh?

-- Bạch Ðại đức, trí lự của trẫm nông cạn không theo kịp câu vấn nạn nầy. Mong Ðại đức dẫn giải cho trẫm lãnh hội cao kiến.

Na Tiên dẫn lời Phật dạy mà giải đáp rằng:

-- Có sáu sự vui mừng thô trược, sáu sự buồn lo thanh cao; lại có sáu sự không vui không buồn thô trược và sáu sự không vui không buồn thanh cao.

Vua hỏi:

-- Sáu sự vui buồn thô trược là những gì?

-- Một là mắt nhìn sắc đẹp rồi móng lòng ham muốn. Hai là tai nghe tiếng hay rồi móng lòng ham muốn. Ba là ngửi mùi thơm rồi móng lòng ham muốn. Bốn là lưỡi nếm vị ngon rồi móng lòng ham muốn. Năm là thân chạm vật mịn rồi móng lòng ham muốn. Sáu là ý nhận những cảm thọ dễ chịu rồi móng lòng ham muốn. Như thế là sáu sự vui mừng thô trược.

-- Sáu sự vui mừng thanh cao là những gì?

-- Một là mắt thấy sắc đẹp, nghĩ rằng sắc ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thấy thanh thoát nhẹ nhàng. Hai là tai nghe tiếng hay, nghĩ rằng tiếng ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thấy thanh thoát nhẹ nhàng. Ba là mũi ngửi mùi thơm, nghĩ rằng mùi ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thấy thanh thoát nhẹ nhàng. Bốn là lưỡi nếm vị ngon, rồi nghĩ rằng vị ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thấy thanh thoát nhẹ nhàng. Năm là thân chạm vật mịn, nghĩ rằng vật mịn ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thấy thanh thoát nhẹ nhàng. Sáu là ý nhận những cảm thọ dễ chịu, nghĩ rằng những cảm thọ ấy không bền, chẳng nên lưu luyến, rồi nhân đó tư duy lẽ thành bại đắc thất vô thường của vạn hữu khiến lòng thanh thoát nhẹ nhàng. Như thế là sáu sự vui mừng thanh cao.

-- Sáu sự buồn lo thô trược là những gì?

-- Một là mắt thấy sắc xấu, không ưa mà vẫn phải nhìn. Hai là tai nghe tiếng ghê rợn, không thích mà vẫn không thể bịt tai. Ba là mũi ngửi mùi tanh hôi, không muốn mà mùi thối vẫn xông lên nồng nực. Bốn là lưỡi nếm vị cay đắng, không ưng mà miệng vẫn phải nhai nuốt. Năm là thân đụng vật nhám rích, không chịu mà xa tránh không được. Sáu là ý bị sầu khổ đoanh vây, muốn xua đuổi mà vẫn phải nhớ nghĩ hoài. Như thế là sáu sự buồn lo thô trược.

-- Sáu sự buồn lo thanh cao là những gì?

-- Mắt nhìn thấy sắc tàn tạ, không buồn vì cảnh tàn tạ ấy - vì đó là sự thành bại đắc thất đương nhiên giữa vạn hữu - nhưng buồn vì thấy chúng sinh đau khổ không ngộ được lẽ thành bại đắc thất kia nên không xả bỏ luyến tiếc trìu mến. Ðó là một sự buồn lo thanh cao. Ðối với những gì tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân chạm và ý nghĩ, cũng đều có một tâm trạng như thế. Như vậy là sáu sự buồn lo thanh cao.

-- Còn sáu sự không vui không buồn thô trược?

-- Là khi mắt thấy hình sắc, tai nghe âm thanh v.v., căn trần tiếp xúc nhau mà lòng ngây dại dửng dưng như vật vô tri vô giác.

-- Thế còn sáu sự không vui không buồn thanh cao là như thế nào?

-- Là mắt nhìn thấy sắc, tai nghe âm thanh v.v., bình thản mà thọ nhận, cảnh vui không đủ sức khiến phải say mê, cảnh buồn không đủ sức khiến phải rầu rĩ. Nếu có thọ nhận cảnh gì đi nữa là chỉ vì chúng sanh mà thọ nhận (1).

-- Hay thay! Hay thay!

(1) 36 Cảm thọ nầy, tạng Luận đem phối hợp với 3 đời chia thành 108 loại cảm thọ.

Nguồn bản đọc

Cao Hữu Đính dịch theo Hán bản

Đối chiếu tại nguồn

BuddhaSasana cho phép phổ biến miễn phí trong tinh thần Pháp thí; giữ nguyên bản dịch và nguồn · Thông tin từ nguồn