Phật Giáo VNS
Tiếng Việt

Bắc truyền · Tiếng Việt

Kinh Vô Lượng Thọ — Phẩm 35 — Trược Thế Ác Khổ

HT. Thích Đức Niệm; Hán bản hội tập của Hạ Liên Cư

Giữ lời văn theo bản nguồn được dẫn. Các bản dịch khác được giữ riêng.

Mục lục 48 phần
  1. Phẩm 1 — Pháp Hội Thánh Chúng
  2. Phẩm 2 — Đức Tuân Phổ Hiền
  3. Phẩm 3 — Đại Giáo Duyên Khởi
  4. Phẩm 4 — Pháp Tạng Nhân Địa
  5. Phẩm 5 — Chí Tâm Tinh Tấn
  6. Phẩm 6 — Phát Đại Thệ Nguyện
  7. Phẩm 7 — Quyết Thành Chánh Giác
  8. Phẩm 8 — Tích Công Lũy Đức
  9. Phẩm 9 — Thành Tựu Viên Mãn
  10. Phẩm 10 — Đều Nguyện Làm Phật
  11. Phẩm 11 — Cõi Nước Nghiêm Tịnh
  12. Phẩm 12 — Ánh Sáng Chiếu Khắp
  13. Phẩm 13 — Thọ Mạng Đại Chúng Vô Lượng
  14. Phẩm 14 — Cây Báu Khắp Nước
  15. Phẩm 15 — Bồ Đề Đạo Tràng
  16. Phẩm 16 — Nhà Cửa Lầu Gác
  17. Phẩm 17 — Suối Ao Công Đức
  18. Phẩm 18 — Hiếm Có, Siêu Vượt Thế Gian
  19. Phẩm 19 — Thọ Dụng Đầy Đủ
  20. Phẩm 20 — Gió Đức Mưa Hoa
  21. Phẩm 21 — Sen Báu Phật Quang
  22. Phẩm 22 — Quyết Chứng Cực Quả
  23. Phẩm 23 — Mười Phương Chư Phật Tán Thán
  24. Phẩm 24 — Ba Bậc Vãng Sanh
  25. Phẩm 25 — Chánh Nhân Vãng Sanh
  26. Phẩm 26 — Lễ Cúng Nghe Pháp
  27. Phẩm 27 — Ca Thán Phật Đức
  28. Phẩm 28 — Đại Sĩ Thần Quang
  29. Phẩm 29 — Nguyện Lực Hoằng Sâu
  30. Phẩm 30 — Bồ Tát Tu Trì
  31. Phẩm 31 — Công Đức Chơn Thật
  32. Phẩm 32 — Thọ Lạc Không Cùng Tận
  33. Phẩm 33 — Khuyến Dụ Sách Tấn
  34. Phẩm 34 — Tâm Được Mở Sáng
  35. Phẩm 35 — Trược Thế Ác Khổ
  36. Phẩm 36 — Bao Lượt Khuyên Lơn
  37. Phẩm 37 — Như Nghèo Đặng Của Báu
  38. Phẩm 38 — Lễ Phật Hiện Ánh Sáng
  39. Phẩm 39 — Từ Thị Thuật Chỗ Thấy
  40. Phẩm 40 — Biên Địa, Nghi Thành
  41. Phẩm 41 — Hoặc Tận Kiến Phật
  42. Phẩm 42 — Bồ Tát Vãng Sanh
  43. Phẩm 43 — Chẳng Phải Là Tiểu Thừa
  44. Phẩm 44 — Thọ Ký Bồ Đề
  45. Phẩm 45 — Chỉ Lưu Lại Một Kinh Này
  46. Phẩm 46 — Cần Tu Kiên Trì
  47. Phẩm 47 — Phước Huệ Được Nghe
  48. Phẩm 48 — Nghe Kinh Được Lợi Ích

PHẨM BA MƯƠI LĂM

TRƯỢC THẾ ÁC KHỔ

Phật bảo Di Lặc: “Các ngươi sanh trong đời này, tâm ý chánh trực không làm điều ác, đó là có đức hạnh lớn.” Vì sao vậy?

Mười phương thế giới của chư Phật thiện nhiều ác ít rất dễ khai hóa. Chỉ có thế gian năm ác trược này rất là cực khổ. Ta nay thành Phật ở đây để giáo hóa quần sanh bỏ năm điều dữ, dứt năm sự thống khổ, lìa năm sự thiêu đốt, điều phục tâm ý khiến làm năm điều lành, phước đức được thành tựu.

Những gì là năm?

Điều thứ nhất: Các loài chúng sanh ở thế gian thích làm điều ác, mạnh hiếp yếu, chèn ép nhau, tàn sát tổn hại ăn nuốt lẫn nhau, không biết làm lành để chịu hậu quả, nên có kẻ cùng khổ, cô độc, câm điếc đui ngọng, si ác ngông cuồng là do đời trước không tin đạo đức, không chịu làm lành. Những hạng tôn quí, hào phú, hiền minh, trưởng giả, trí dõng tài cao là do biết từ ái hiếu thuận, tu thiện tích đức từ đời trước.

Khi còn sanh tiền đã làm sai trái, sau khi mạng chung vào chốn u minh chuyển thọ thân hình sanh vào các nẻo, nên có địa ngục, súc sanh – ví như lao ngục ở thế gian có cực hình kịch khổ – thần thức tùy tội đã tạo mà thọ mạng có dài ngắn theo nhau trả báo, tội ác chưa hết lại tiếp tục chịu tội, xoay vần nhiều kiếp không thôi rất khó giải thoát, khổ thống không thể nói hết được! Ác đạo tuần hoàn cảm ứng tự nhiên, tuy không báo ứng tức thời, nhưng thiện ác chung qui vẫn phải chịu quả báo.

Điều thứ hai: Nhân loại thế gian không theo pháp luật, hoang dâm thái quá mặc tình phóng túng, trên thì không minh, tại vị không chính, hãm hại oan uổng, tổn hại trung lương, tâm miệng khác biệt, mưu toan nhiều bề, trong ngoài dối trá, giận dỗi ngu si, muốn lợi về mình, tham lam không chán, lợi hại được thua, oán giận thành thù, tan nhà mất mạng, không xét trước sau, giàu có keo kiệt không chịu bố thí, chất chứa cho đầy, nhọc tâm khổ thân, đến khi mạng chung không đem được gì, thiện ác họa phước tùy nghiệp thọ sanh, hoặc sanh vào nơi sung sướng hay vào chốn khổ độc. Thấy người làm lành lại còn hủy báng không chịu bắt chước, thường nghĩ trộm cắp, rình đoạt của người, tiêu phá hết rồi lại đi tìm nữa. Chết đọa vào ba đường ác chịu vô lượng khổ, xoay vần nhiều kiếp rất khó ra khỏi, đau khổ vô cùng.

Điều thứ ba: Người đời nương nhau mà sống còn trong trời đất, thọ mạng chẳng được là bao? Kẻ bất lương tâm không chính đính, ôm lòng tà ác, luôn nghĩ dâm dục, phiền não tràn hông, thái độ tà ngụy buông lung, hao tổn tài sản, làm điều phi pháp, ai cầu xin gì cũng không chấp thuận, lại còn tụ bè kết đảng, hưng binh gây chiến đánh cướp giết hại, chiếm đoạt bức hiếp chu cấp cho vợ con, no thân hưởng lạc, khiến người chán ghét, lo lắng khổ cực, tạo nhiều tội ác, chết vào tam đồ chịu vô lượng khổ, qua lại nhiều kiếp, khó được giải thoát, khổ đau khôn xiết.

Điều thứ tư: Người ta ở đời không chịu tu thiện, nói dối, nói lời hung dữ, nói đâm thọc, nói thêu dệt, ganh ghét người lành, hãm hại người hiền, bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn sư trưởng, chẳng thành tín với bằng hữu, tự cao tự đại, cho mình có lý, cậy mình ỷ thế, lấn hiếp mọi người mong người kính nể, không biết hổ thẹn, ôm lòng kiêu mạn, khó thể giáo hóa. Nhờ chút phước đức từ đời trước, đời này làm ác phước đức mất hết, thọ mạng hết rồi, các điều ác bao vây, oán cừu dẫn dắt không sao tránh khỏi, chỉ việc tiến vào vạc lửa, thân thể tan nát, tâm thần thống khổ, bấy giờ nghĩ lại ăn năn thì đã muộn rồi!

Điều thứ năm: Người đời phóng túng lười biếng không chịu làm lành, tu sửa thân tâm; cha mẹ khuyên bảo, ngang trái chống đối như là oan gia, phụ bạc ân nghĩa không chút báo đền, phóng túng lêu lổng, rượu chè xa hoa, đần độn bướng bỉnh, chẳng chút lễ nghĩa, không thể can gián, giao tiếp lục thân quyến thuộc không chút ân tình, không nhớ ơn cha mẹ, không đoái nghĩa thầy trò bằng hữu, chỉ lo cho tự thân, không được một điều lành, không tin Phật pháp, không tin sanh tử thiện ác, muốn hại hiền nhân, phá hoại Phật pháp, ngu si mông muội tự cho thông minh, không biết từ đâu sanh đến, chết sẽ đi về đâu, bất nhơn bất thuận lại muốn trường thọ. Thương xót khuyên bảo lại không chịu nghe, khô hơi khản tiếng cũng thành vô ích. Tâm ý cố chấp không chịu thấu hiểu. Mạng chung cận kề hối tiếc đã không tu thiện, đến khi nhắm mắt ăn năn hối hận sao còn kịp nữa!

Trong vũ trụ, năm đường phân minh, thiện ác báo ứng họa phước đành rành, thân tự chịu lấy không ai thay được. Người thiện làm lành thì từ cảnh sướng đến cõi sướng, từ sáng vào sáng. Người ác làm ác từ cảnh khổ vào cõi khổ, từ tối vào chỗ tối. Ai hay biết được? Chỉ có đức Phật biết rõ khai thị chỉ dạy, người tuân hành rất ít, nên sanh tử không thôi, ác đạo không dứt. Người đời tạo ác như thế, nên tự nhiên có ba đường ác, chịu vô lượng khổ, xoay vần nhiều kiếp không có hạn kỳ ra khỏi, khó được giải thoát đau đớn không thể nói được. Do vậy nên có ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu, như lò lửa lớn thiêu đốt thân người.

Nếu tự nhứt tâm giữ ý, đoan thân chánh niệm, ngôn hành tương xứng, chí tâm làm lành không làm việc ác, thì được độ thoát, đầy đủ phước đức được trường thọ đến đạo Bồ đề. Đây là năm điều đại thiện.

Nguồn bản đọc

HT. Thích Đức Niệm; Hán bản hội tập của Hạ Liên Cư

Đối chiếu tại nguồn

Nguồn phát hành cho phép sao chép; ghi rõ nguồn và bản dịch · Thông tin từ nguồn